Website Trường THPT Bình Sơn - Sông Lô - Vĩnh Phúc

Nề nếp nghiêm, chất lượng thực, hiệu quả cao!
Tổ Toán Lý hội thảo dạy chuyên đề In
Viết bởi Lê Tùng Thanh   
Thứ sáu, 08 Tháng 3 2013 14:16

A. BÁO CÁO CỦA PHẠM HOÀI NAM

Đánh giá thực trạng dạy chuyên đề,ôn thi đại học-cao đẳngvà biện pháp nâng cao chất lượng điểm bài thi cho học sinh thpt Bình sơn

I. Chất lượng thi đại học môn Vật lý năm 2012

 - Tổng số HS dự thi các khối: A:104; B: 77; C: 47; D: 7.

 - Điểm bình quân môn Lí: 3.9 ( Sáng Sơn: 3.7)Xếp thứ 13/36 trường có HS dự thi.

 - Các trường có điểm Lí cao hơn: Chuyên VP: 6.3; Hai Bà Trưng: 5.5; Trần Phú: 5; Yên Lạc: 4.8; Lê Xoay: 4.8; Yên Lạc 2: 4; Bình Xuyên: 4.3; Ngô Gia Tự: 4.5; Tam Dương: 4; Xuân Hòa: 4.1; Bến Tre: 4.2; Quang Hà: 4.0.

 - Số học sinh có điểm môn Lí từ 7 trở lên: 7 ( Sáng Sơn: 1).

 - Điểm thi các môn khác của trường: Toán: 3.08; Hóa: 3.99; Sinh: 3.83; Văn: 5.49; Sử: 3.64; Địa: 5.89; NN: 4.75.

 - Điểm TB môn Lí các lớp tôi dạy: 4.24( So với chính tôi năm 2011: 5.72).

II. CHẤT LƯỢNG DẠY CHUYÊN ĐỀ THÔNG QUA THI KHẢO SÁT CỦA HS

 Kết quả thi khảo sát :

 - Lần 1: Khối A: 181, A1: 7, B: 79, C: 106, D: 19( Toán: 3.17; Lí: 3.61; Hóa: 4.07; NN: 4.05; Sinh: 3.39; Văn: 416; Sử: 5.48; Địa: 4.6).

 - Lần 2: Khối A:169, A1: 6, B: 76; C: 102; D: 20( Toán: 3.62, Lí: 4.88, Hóa: 3.88, Sinh: 3.25; Văn: 4.85; Sử: 4.91; Địa: 6.15; T.Anh : 4.88).

- Kết quả của HS các lớp do tôi giảng dạy: 12A2(37HS): 5.33; 12A3(36HS): 4.22.

III. PHÂN TÍCH KẾT QUẢ

1. Kết quả thi Đại học năm 2011 – 2012:

 - Kết quả môn Vật lí chung khối A thấp hơn so với năm cũ của chính trường Bình Sơn.

 - So với cục diện các trường THPT trong tỉnh: + Kết quả điểm TB môn Vật lí trường Bình Sơn :3.9 đứng thứ 13 trong 36 trường có HS thi của toàn tỉnh. So với một số trường cùng top như: Yên Lạc 2, Bình Xuyên, Tam Dương thì kết quả của trường Bình Sơn kém hơn nhưng không phải nhiều.

 + So kết quả của riêng tôi: 4,24( TB các lớp A1, A3, A5) với mặt bằng chung môn Lí của tỉnh thì tạm chấp nhận được.

2. Kết quả môn Vật lí qua thi thử ĐH lần 1, 2 năm học 2012 – 2013

 - Kết quả điểm môn Vật lí chung toàn khối A, A1 qua 2 lần thi có tiến bộ dần nhưng chất lượng vẫn còn thấp( 3.61 lên 4.88).

 - Kết quả trung bình thi thử môn Vật lí của HS các lớp do tôi dạy: 12A2: 5.33 chấp nhận được; 12A3: 4.22 vẫn hơi thấp.

IV. PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN

  Ở đây với tư cách cá nhân của một người trực tiếp giảng dạy và thường xuyên quan tâm đến việc ôn thi Đại học, tôi mạnh dạn nêu lên một số nguyên nhân:

 1. Nguyên nhân từ giáo viên

  - Tôi đã dạy đủ yêu cầu về số buổi buổi ôn, đúng yêu cầu về trang bị kiến thức theo theo kế hoạch mà tổ chuyên môn đã thống nhất lập từ đầu năm theo cấu trúc đề thi Đại học hiện hành nhưng việc cho học sinh thực hành luyện đề  để hình thành kĩ năng còn chiếm thời lượng ít trong số các buổi dạy trên lớp.

 - Việc quản lí, kiểm tra theo dõi việc học của học sinh ở nhà khó đối với giáo viên nên việc làm này cho hiệu quả còn thấp( do số buổi dạy có hạn nên khi lên lớp khó có thể kiểm tra đến từng học sinh việc hoàn thành nhiệm vụ mà giáo viên đã giao khi học ôn).

 - Việc phân loại chất lượng học sinh để từ đó tư vấn cho từng học sinh là nên hay không nên thi đại học còn e dè, học sinh học lực yếu đăng kí thi tùy ý.

 2. Nguyên nhân từ phía học sinh và phụ huynh

  - Chất lượng đầu vào của học sinh trường Bình Sơn yếu và không đồng đều( Theo tôi đây là ngyên nhân cốt lõi nhất).

   + Điểm thi đầu vào lớp 10 gần như thấp nhất tỉnh điều đó chứng tỏ mặt bằng kiến thức và khả năng tư duy của học sinh trong vùng không cao( đặc biệt là các môn khoa học tự nhiên đòi hỏi nhiều về tư duy chứ không chỉ học thuộc).

   + Có một số học sinh có chất lượng tốt là học sinh giỏi ( mũi nhọn) nhưng là số ít.

  Từ hai điều này dẫn đến một việc là ở trường Bình Sơn để đào tạo học sinh giỏi cấp tỉnh thì khả thi hơn nhiều so với việc nâng ngay chất lượng thi đại học lên cao ( vào top 200) bởi vì ở đây cần nâng đại trà cả một số lượng lớn học sinh đang có tầm thấp hơn với mặt bằng chung toàn tỉnh quá nhiều.

  Ví dụ:

Trường Yên Lạc

Điểm vào lớp 10: = > 30 điểm

Điểm thi Đại học 2012: 15.47

Trường Bình Sơn

Điểm vào lớp 10: => 12.25 điểm

Điểm thi Đại học 2012: 12.10

   Từ ví dụ so sánh trên cho thấy xếp loại thi đại học trường Bình Sơn trước mắt nếu phấn đấu quyết liệt chỉ có thể xếp hạng ở top 300 đến 400.

 - Học sinh ngại hoặc không tự học, khám phá cái mới mà chủ yếu chờ thầy cô làm mẫu rồi cố thuộc và làm theo nên gặp vấn đề lạ là khó khăn không biết cách giải quyết.

 - Học lực yếu nhưng phụ huynh vẫn muốn con em mình thi đại học bằng…bạn bè

  V. BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC

  * Lâu dài:Năm nay,kể cả đợt bổ sung giáo viên mới sau tết, đã đủ GV, BGH nên cân nhắc chỉ đạo tổ bộ môn lựa chọn giáo viên có năng lực đảm nhiệm dạy các lớp ôn liên thông từ lớp 10 đến lớp 12 để bộ GV dạy có kế hoạch dài hơi, tránh việc người dạy lớp sau phải dạy lại kiến thức của người dạy lớp trước.

 * Trước mắt đối với khối 12:

    + Việc tổ chức dạy của giáo viên:

     - Tăng cường thời lượng luyện tập cho học sinh ngay tại lớp trong các buổi ôn đồng thời giao các bài tập cho học sinh luyện ở nhà .

    - Tăng cường hệ thống kiến thức toàn cấp song song với hệ thống kiến thức của các chủ đề học tập.

    - Lựa chọn các đề thi hay bám sát với đề thi đại học hiện hành cho học sinh thi thử nhiều lần để luyện kĩ năng làm bài thi trắc nghiệm.

 + Công tác tư vấn hướng nghiệp: Cần phối hợp tất cả các lực lượng trong nhà trường cùng với PHHS để làm tốt công việc này,để học sinh rõ năng lực bản thân trước khi quyết định đi thi/hay không thi đại học.

Mục tiêu: Điểm thi đại học môn Vật lí của học sinh năm 2013:12A2: 5; 12A3: 4.5

 

 B. BÁO CÁO CỦA ĐÀO TIẾN PHỨC – GV LÝ

I. Mở đầu

  Một trường THPT có chất lượng đào tạo tốt là trường có nhiều giải và giải cao HSG Tỉnh, Quốc gia, tỷ lệ học sinh đỗ ĐH – CĐ cao.Một số nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường hiện nay là:       

          - Nâng cao chất lượng giáo dục đại trà, giáo viên giảng dạy để học sinh lĩnh hội được những kiến thức phổ thông nhất, chuẩn bị trở thành một công dân tốt

          - Chất lượng giáo dục mũi nhọn tốt: nhiều  học sinh giỏi tỉnh, phấn đấu tiến tới có giải Quốc gia…; tỷ lệ học sinh đỗ vào các trường ĐH – CĐ = > 60%

  Như vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng của mỗi trường hiện nay là chất lượng ôn ĐH – CĐ để trang bị cho học sinh khối kiến thức tốt giúp các em có tâm thế vững vàng và đạt kết quả cao nhất trong các kỳ thi tuyển sinh CĐ- ĐH.

BGH trường THPT Bình Sơn luôn đề cao chất lượng giáo dục mũi nhọn để nâng cao vị thế của nhà trường. 

II. Nội dung

           Đặc trưng của môn Vật lý trong các kỳ thi tuyển sinh là dùng hình thức thi trắc nghiệm, các em phải làm 50 câu hỏi trong thời gian 90 phút. Thời gian để làm mỗi câu chưa đến 2 phút.Vì vậy cần phải có một kỹ năng thuần thục cho mỗi bài toán, mỗi dạng toán thì mới có thể làm hết số câu hỏi trong đề thi.

Là giáo viên trực tiếp giảng dạy khối 12 trong đó có hai lớp thi ĐH – CĐ khối A năm 2013: lớp 12A1 và 12A4, mỗi lớp có những điều kiện thuận lợi và khó khăn khác nhau trong việc ôn thi ĐH – CĐ.

1. Với lớp 12A1:

- Thuận lợi: + Là lớp có chất lượng đầu vào cao nhất so với cả khối

+ Mỗi học sinh của lớp đều có ý thức vươn lên trong học tập, phấn đấu để thi đỗ vào các trường đại học cao đẳng

+ Giữa mỗi học kỳ và cuối năm học nhà trường tổ chức các kỳ khảo sát CĐ để lựa chọn những em có lực học tốt nhất vào lớp 12A1

+ PHHS luôn tạo điều kiện tốt nhất cho các em học sinh trong học tập

- Khó khăn:  + Ngoài việc ôn ĐH – CĐ, các em học sinh còn phải hoàn thành các môn văn hóa nên thời gian dành cho việc ôn ĐH – CĐ không có nhiều

+ Thời lượng ôn các môn trong khối thi ĐH – CĐ cũng không nhiều, dẫn đến việc chưa hiểu sâu sắc kiến thức, kỹ năng làm bài thi chưa cao

+ Các em học sinh trong lớp chưa thực sự đồng đều về kiến thức và khả năng nhận thức, việc giảng dạy của giáo viên gặp khó khăn

- Kết quả thi thử ĐH – CĐ của lớp 12A1 từ đầu năm đến nay

+ Thi lần 1 (đầu học kì I, trường ra đề): Điểm trung bình của 1 học sinh đạt 7,77 điểm

+ Thi lần 2 (cuối học kì I, Sở GD&ĐT ra đề): Điểm trung bình của 1 học sinh đạt 4,61 điểm

+ Thi lần 3 (cuối học kì I, trường ra đề): Điểm trung bình của 1 học sinh đạt 6,52 điểm

=>Kết quả thi thử của học sinh không cao, chưa đúng với mặt bằng chung của lớp. Một số nguyên nhân và cách khắc phục:

          * Người dạy đã đảm bảo về chương trình, đã phân dạng bài tập theo từng đơn vị kiến thức để truyền đạt cho học sinh. Với mỗi dạng bài tập có bài tập ví dụ, bài tập vận dụng trên lớp và bài tập củng cố về nhà cho học sinh. Như vậy học sinh có đủ kiến thức để dự thi, đi sâu phân tích mỗi đợt thi thử: Thi lần 1 (đầu học kì I, trường ra đề) nội dung chương trình  thi chỉ giới hạn trong một chương, khối lượng kiến thức không nhiều, dạng bài tập còn ít (đạt 7,77 điểm/1hs); đến lần thi thứ 2 (cuối học kì I, Sở GD&ĐT ra đề) nội dung chương trình thi giới hạn trong ba chương, lúc này học sinh đã tích lũy một khối lượng kiến thức đáng kể với nhiều đơn vị kiến thức, mỗi đơn vị kiến thức lại có một số dạng bài tập đặc trưng, đòi hỏi học sinh phải có trí nhớ và kỹ năng làm bài thi tốt. Trong khoảng thời gian này các em chỉ đủ thời gian để làm bài tập ví dụ (giáo viên hướng dẫn và chữa), bài tập vận dụng trên lớp và bài tập củng cố về nhà ở mỗi dạng bài tập, mà chưa có nhiều thời gian cho việc luyện đề có nhiều dạng bài tập - nhiều đơn vị kiến thức à không có kỹ năng làm đề tổng hợp (chỉ đạt trung bình  4,61 điểm/1hs); Rút kinh nghiệm từ lần thi thứ 2 chuẩn bị cho lần thi thứ 3, giáo viên cho học sinh luyện một số đề tổng hợp theo giới hạn chương trình thi lần 3. Qua việc làm đề học sinh ôn lại những phần kiến thức đã học, đặc biệt là những phần đã quên. Kết quả thi lần 3 đạt 6,52 điểm/ 1hs. Như vậy, ngoài việc đảm bảo về kiến thức, các dạng bài tập giáo viên cần phải thường xuyên kiểm tra kiến thức cũ của học sinh ,tránh trường hợp “học trước quên sau”

          * Về phía học sinh: Với mỗi dạng bài tập mới học sinh rất hứng thú, giáo viên chỉ cần hướng dẫn một số bài tập ví dụ là học sinh có thể tự mình giải được các bài tập vận dụng ngay trên lớp. Tuy nhiên không ít học sinh lại chủ quan: không làm hoặc làm qua loa các bài tập củng cố về nhà. Yêu cầu với học sinh: Mỗi học sinh cần nghiêm túc tìm cho mình một phương pháp học tập hiệu quả - phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mình và điều quan trọng là không bỏ qua bất kỳ một bài tập nào mà thầy cô cho. Ngoài ra, có thể tham khảo - tự luyện đề trong các bộ đề thi thử ĐH-CĐ. 

                    Một số kiến nghị:

        Giáo viên thường xuyên kiểm tra việc học và làm bài tập trên lớp, bài tập củng cố về nhà của học sinh. Hướng dẫn học sinh khi làm bài tập củng cố thì không nên xem bài tập tương tự mà thầy cô đã chữa, mà cố gắng tự mình giải bài tập bằng những kiến thức mà mình đã học và nhớ được. Ra đề tổng hợp nhiều đơn vị kiến thức để học sinh luyện tập phương pháp và kỹ năng làm bài.

        Nhà trường tạo điều kiện hơn nữa về thời gian và thời lượng ôn các môn trong khối thi ĐH – CĐ; tổ chức nhiều kỳ thi khảo sát ĐH – CĐ (mỗi học kỳ khoảng 3 lần: đầu kỳ, giữa kỳ và cuối kỳ) để các em biết lực học của mình ở từng giai đoạn, từ đó có hướng bổ sung kiến thức một cách hợp lý và làm quen với cách làm bài thi. 

2. Với lớp 12A4:

- Thuận lợi: + Một số học sinh của lớp có ý thức vươn lên trong học tập, phấn đấu để thi đỗ vào các trường đại học cao đẳng

+ PHHS luôn tạo điều kiện tốt nhất cho các em học sinh trong học tập

- Khó khăn:  + Là lớp có chất lượng thấp nhất so với các lớp thi ĐH-CĐ khối A. Giữa mỗi học kỳ và cuối năm học nhà trường tổ chức các kỳ khảo sát CĐ,những em có lực học yếu nhất khối A vào lớp 12A4

                   + Ngoài việc ôn ĐH – CĐ, các em học sinh còn phải hoàn thành các môn văn hóa nên thời gian dành cho việc ôn ĐH – CĐ không có nhiều

+ Thời lượng ôn các môn trong khối thi ĐH – CĐ cũng không nhiều, dẫn đến việc chưa hiểu sâu sắc kiến thức, kỹ năng làm bài thi chưa cao

- Kết quả thi thử ĐH – CĐ của lớp 12A4 từ đầu năm đến nay: Qua 3 lần thi thử ĐH-CĐ điểm bình quân môn Lý chỉ đạt 3,91/1hs, kết quả này phản ánh đúng lực học của lớp. Trong lớp ngoài một số học sinh của lớp có ý thức vươn lên trong học tập, phấn đấu để thi đỗ vào các trường đại học cao đẳng; còn lại chưa thực sự cố gắng.

Khác với lớp 12A1 phấn đấu điểm thi ĐH-CĐ môn Lý ở mức khá - giỏi, đối với lớp 12A4 phấn đấu điểm thi ĐH-CĐ môn Lý ở mức trung bình. Với mục tiêu đó giáo viên chỉ cung cấp những kiến thức cơ bản nhất trong các chuyên đề luyện thi đại học cao đẳng; học sinh theo dõi bài tập ví dụ, làm bài tập vận dụng trên lớp, củng cố kiến thức  bằng bài tập về nhà mà thầy cho.

 

C. BÁO CÁO RÚT KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY CHUYÊN ĐỀ TOÁN

Giáo viên: Phạm Văn Minh

1.KẾT QUẢ THI CHUYÊN ĐỀ LẦN 2 :

Trong đợt chuyên đề vừa qua, nhà trường phân công cho tôi giảng dạy chuyên đề lớp 12A3 và 11A1 . Kết quả đạt được sau đợt thi chuyên đề lần 2 do nhà trường tổ chức.

Lớp 12 A3: ĐTB là: 4.02

Điểm

>5

>4

>3

>2

< 2

Số lượng

12

6

10

5

3

 Lớp 11 A1: ĐTB là: 6.04

Điểm

>7

>5

>4

>3

>2

< 2

Số lượng

18

8

8

3

4

1

2.ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ

- Với học lực của lớp 12A3 việc đạt kết quả như trên là hợp lý. Tuy nhiên, vẫn có thể nâng cao điểm số của các em. Nhìn vào thống kê ta thấy lực học không đồng đều của học sinh. Vẫn còn 8 em dưới 3 điểm thi, 10 em từ 3 đến 4 điểm.

- Đối với lớp 11A1 thì kết quả trên chưa hợp lý với lực học của các em. Còn quá nhiều em dưới 5 điểm (16/42 học sinh) khiến tôi phải tự suy nghĩ về cách dạy của mình. Ngoài ra, điểm số phản ánh rất rõ dàng sự phân hóa học sinh: Đội tuyển Toán điểm > 8 trong khi các đội tuyển khác không có em nào được 8 điểm trở lên.

3.NGUYÊN NHÂN

a) Thực trạng giảng dạy:

- Về dạy học của giáo viên: Do kinh nghiệm ÔTĐH chưa nhiều lên còn có các  vấn đề sau:

+ Đánh giá lực học của học sinh chưa chính xác: đánh giá cao hơn so với thực tế.

+ Phương pháp:Còn lúng túng trong lựa trọn phương pháp giảng dạy cho học sinh vì lớp có nhiều đối tượng học sinh. Trong khi đó lại chỉ chọn phương pháp dạy cho một đối tượng ( thường chọn phương pháp dạy cho đối tượng khá (12A3), giỏi(11A1)) dẫn tới sự phân hóa học sinh ngày càng lớn.

+ Hệ thống kiến thức, bài tập: Sự đầu tư về hệ thống phân loại bài tập chưa được cao vì khối lượng kiến thức, bài tập rất lớn. Dẫn tới đôi khi đưa ra những bài tập không hợp lý : Bài tập khó giải hoặc số liệu xấu -> học sinh không làm được…Chuẩn bị bài chưa được chu đáo, kỹ càng.

+ Chưa quan tâm, sửa chữa, nhắc nhở được hết các học sinh. Vẫn chưa thực sự tạo được hứng thú học tập của học sinh

+ Vẫn còn tư tưởng chủ quan, chưa đôn đốc quyết liệt để học sinh học bài trên lớp, ở nhà.Chưa chú ý rèn luyện phương pháp học cho học sinh

- Về việc học của học sinh:
+ Sự phân hóa học sinh rõ rệt, có những em thể hiện rõ “ngồi nhầm lớp” .

+ Một số em còn chủ quan không chịu rèn luyện kỹ : “biết rồi không cần làm” hoặc “chỉ cần làm ra nháp”. Một số em không có chí phấn đấu học tập, học đối phó.

+ Kiến thức và kỹ năng cơ bản của một vài em còn yếu hoặc thiếu và không có thời gian rèn luyện lại. Kiến thức và kỹ năng của lớp dưới các em quên rất nhiều.

+ Học sinh chưa có phương pháp học tập trên lớp, cũng như ở nhà. Phương pháp tự học chưa đạt hiệu quả.

+ Học sinh chưa tích cực xây dựng bài, còn tư tưởng “may quá” khi thầy gọi bạn khác lên bảng mà không phải gọi mình. Còn tư tưởng ỷ lại vào người khác, lười suy nghĩ.

+ Đặc biệt là hai kỹ năng trình bày và tính toán của các em còn chưa tốt. Dẫn tới điểm số đạt được thấp hơn khả năng thật sự của các em.

- Việc thi khảo sát quá gấp rút, các em không có thời gian ôn lại toàn bộ các kiến thức đã được học, nhiều kiến thức học lâu các em quên mất nên bài làm không hiệu quả.

- Việc phân loại học sinh chưa tốt vì khi thi phân loại, một số em nhìn bài bạn chứ không phải năng lực thật của bản thân. Khi đó việc một số em ngồi nhầm lớp là khó tránh khỏi.

- Một số em rất hay nghĩ học chuyên đề với lý do không chính đáng), hệ quả tất yếu là lỗ hổng kiến thức xuất hiện và ngày càng lớn.

- Các em chưa có thời gian luyện đề dẫn tới chưa có phương pháp, cách thực làm đề hiệu quả. 

4.BIỆN PHÁP THỰC HIỆN VÀ ĐỀ XUẤT HƯỚNG GIẢI QUYẾT

- Hướng dẫn rèn luyện và bổ sung các kỹ năng cơ bản cho học sinh:

+ Kỹ năng trình bày: sau mỗi lần các em lên bảng làm bài, sau mỗi bài kiểm tra, sau mỗi buổi học giáo viên cần chỉ ra các lỗi trình bày, sửa lại các lỗi đó và yêu cầu các em ghi lại các lỗi trình bày đó để tránh mắc lại trong các bài làm sau.

+ Kỹ năng tính toán: thường xuyên ra các bài tập đòi hỏi sự tính toán nhiều nhằm rèn luyện kỹ năng tính toán cho học sinh.

+ Đối với học sinh khá giỏi ( đặc biệt lớp 11A1) cần rèn luyện kỹ năng phân tích, tổng hợp, phân chia trường hợp và quy lạ về quen: VD. Đối với một bài toán mà có thể mở rộng được thì sau khi giải được bài toán đó, giáo viên cần vấn đáp các vấn đề xoay quanh bài toán đó, đặt ra các câu hỏi đòi hỏi học sinh suy nghĩ: Tìm các cách giải khác? Cách giải đó đã tối ưu chưa? Sau khi giải bài toán này ta có thể giải bài toán nào khác bằng cách giải trên không? Nêu và giải bài toán tổng quát của bài toán trên? Mở rộng bài toán đó?

VD: Với bài toán giải và biện luận theo tham số m số nghiệm của phương trình. Sau khi giải được bài toán trên, cũng bằng chính cách làm đó ta có thể giải các bài toán sau:

                   - Tìm m để phương trình vô nghiệm?

                   - Tìm m để phương trình có nghiệm?

                   - Tìm m để phương trình có một nghiệm?

                   - Tìm m để phương trình có hai nghiệm?

                       …………..

- Hướng dẫn phương pháp tự học cho học sinh:

+ Học tập và làm việc có kế hoạch khoa học.

+ Xác định mục tiêu học tập rõ ràng.

+ Các đọc sách hiệu quả: Đọc từ câu hỏi trước sau đó mới đọc nội dung để tìm hiểu theo câu hỏi.

Đọc bài mới trước khi đến lớp sẽ giúp nghe giảng chú ý hơn và nghe giảng đạt hiệu quả cao hơn. Đọc lại bài sau mỗi buổi học sẽ giúp ghi nhớ nhanh và thời gian nhớ lâu hơn các kiến thức.

+ Vừa học lý thuyết vừa làm bài tập giúp hiểu phương pháp, các bước làm, và cách trình bày bài toán , đồng thời se giúp hiểu rõ bản chất bài toán hơn.

- Thường xuyên bồi dưỡng chuyên môn và hoàn thiện giáo án dạy các chuyên đề.

- Nhóm chuyên môn cần có những buổi hội thảo chuyên môn nhằm bồi dưỡng chuyên môn, trao đổi thực trạng và kinh nghiệm giảng dạy cho nhau.

5.MỤC TIÊU ĐẶT RA

- Sửa được lỗi trình bày cho học sinh.

- Truyền đạt đủ kiến thức, kỹ năng cho học sinh.

- Có đủ thời gian luyện đề cho học sinh.

- Kết quả cụ thể cho lần thi CĐ sắp tới:

+ Lớp 12A3: tất cả đạt từ 3 điểm trở lên và ĐTB là 4.5

+ Lớp 11A1: tất cả đạt từ 4.5 điểm trở lên và ĐTB là 6.8

 

D. BÁO CÁO CỦA VŨ VĂN TUYẾN-GV TOÁN 

            Giáo viên: Vũ Văn Tuyến

            Dạy các lớp: 12A4, 12B5, 12B6, 12E11.

  1. Thuận lợi:
  •   Nhà trường tạo điền kiện thuận lợi cgho hs học tập
  •   Học sinh ngoan, có ý thức học tập.
  •   Gia đình có đầu tư vào việc học của học sinh.
  •   Giáo viên cung cấp tài liệu đầy đủ cho hs
  1. Khó khăn:
  • Lực học của học sinh còn yếu, khả năng ghi nhớ kém.
  • Tư duy còn hạn chế, nhiều hs mất gốc.
  1. Tình hình dạy chuyên đề ôn thi ĐH-CĐ

  a,Về phía giáo viên:

       - Đảm bảo dạy hết chương trình và đầy đủ kiến thức thi ĐH cho hs: Năm học 2011-2012 dạy hết chương trình và ôn tập lại một lượt, năm học 2012-2013 đã dạy hết chương trình và hiện tại đang ôn tập lại các chủ đề thi ĐH.

       - Về phương pháp dạy: chủ yếu là luyện tập, giảng giải, hướng dẫn hs tư duy về từng vấn đề- phù hợp với hs các lớp có tư duy chậm

       - Hs thường xuyên được luyện tập để rèn luyện trình bày, rèn luyện kỹ năng

       - Hs tích cực học tập, tích cực tham gia trao đổi bài. Qua trao đổi với hs thấy hs phản ánh là hiểu bài nhưng sau khi học trên lớp xong một hai hôm lại quên cách làm và chủ yếu là quên cách lập luận

       - Khuyết điểm: chưa kiểm tra trường xuyên việc học tập ở nhà của hs

  b, Về phía Hs:

       - Trên lớp hs hiểu bài và làm bài được nhưng lập luận còn yếu, về nhà hs luyện tập ít nên không ghi nhớ được chắc chắn kiến thức

       - Đa số hs đầu vào thấp nên tư duy chậm, kiến thức gốc còn chưa chắc chắn nên khả năng ghi nhớ còn bị hạn chế

       - Hs thực hiện đầy đủ yêu cầu của gv khi về nhà tuy nhiên hs thường làm chống đối: chép bài của bạn hoặc làm bài tập qua loa

       - Kết quả hs thi chuyên đề thấp do những chuyên đề đã học ở lớp 10, lớp 11 chưa được ôn lại nên hs chưa làm được

  1. Chỉ tiêu và biện pháp:

  a, Chỉ tiêu: Theo chỉ tiêu chung của nhà trường: 12A4, 12B5, 12B6 điểm trung bình thi ĐH: 3,25; lớp 12E11 điểm trung bình: 2,75

(Dối với lớp A4,B5 có thể đạt chỉ tiêu, B6 và E11 sẽ không đạt được do hs quá yếu)

  b, Biện pháp:

       - Ôn tập lại những chủ đề chính trong đề thi ĐH, những chủ đề dễ lấy điểm cho hs. Thực hiện việc ôn chậm và chắc

       - Cho hs làm đề cương từng phần và chi tiết trước khi ôn lại. Kiểm tra việc học của hs từng ngày

       - Thường xuyên cho luyện đề để rèn luyện kỹ năng cho hs, chỉnh sửa dần việc trình bày của hs.

       - Thường xuyên trao đổi việc dạy có phù hợp với hs hay chưa: nhanh hay chậm, khó hay dễ, kỹ hay chưa để có hướng điều chỉnh

       - Trao đổi việc học tập của hs với gv các môn khác cùng khối thi để biết năng lực của từng hs

       - Tư vấn cho hs chọn trường, chọn nghề đúng khả năng, thi ĐH- CĐ đúng trình độ, những hs yếu động viên đi học nghề

  1. Dự đoán kết quả thi ĐH- CĐ

       - Lớp 12A4, 12B5 có thể đạt được 3,0 đến 5,0 điểm trên một bài thi

       - Lớp 12B6, 12E11 chỉ có thể đạt tối đa 3,5 điểm trên một bài thi

6.  Kiến nghị:

 

E. BÁO CÁO CỦA NGUYỄN THỊ THU HẢO-GV TOÁN

Giáo viên: Nguyễn Thu Hảo

            Dạy các lớp: 12A2, 12C7.

1. Thuận lợi:

  1. Nhà trường tạo điền kiện thuận lợi cho hs học tập.
  2. Học sinh ngoan, có ý thức học tập.
  3. Gia đình có đầu tư vào việc học của học sinh.
  4. Giáo viên cung cấp tài liệu đầy đủ cho hs

2. Khó khăn:

  • Lực học của học sinh không đồng đều, khả năng ghi nhớ kém.
  • Tư duy còn hạn chế.

3. Tình hình dạy chuyên đề ôn thi ĐH – CĐ

a. Về phía giáo viên:

  • Đảm bảo dạy hết chương trình và đầy đủ kiến thức thi ĐH cho hs.
  • Về phương pháp dạy: chủ yếu là luyện tập, giảng giải, hướng dẫn hs tư duy về từng vấn đề.
  • Hs thường xuyên được luyện tập để rèn luyện trình bày, rèn luyện kỹ năng.
  • Hs tích cực học tập, tích cực tham gia trao đổi bài. Qua trao đổi với hs thấy hs phản ánh là hiểu bài nhưng sau khi học trên lớp xong một hai hôm lại quên cách làm và chủ yếu là quên cách lập luận.
  • Khuyết điểm: chưa kiểm tra trường xuyên việc học tập ở nhà của hs.

b. Về phía Hs:

  • Trên lớp hs hiểu bài và làm bài được nhưng lập luận còn yếu, về nhà hs luyện tập ít nên không ghi nhớ được chắc chắn kiến thức.
  • Đa số hs đã quên kiến thức học ở các lớp dưới dẫn đến kết quả thi còn thấp.

4. Chỉ tiêu và biện pháp:

a. Chỉ tiêu:

  • Điểm trung bình môn toán của lớp đạt > 5 điểm.
  • > 50%  hs đỗ ĐH – CĐ.

b. Biện pháp:

  • Ôn tập lại những chủ đề chính trong đề thi ĐH, những chủ đề dễ lấy điểm cho hs. Thực hiện việc ôn chậm và chắc.
  • Cho hs làm đề cương từng phần và chi tiết trước khi ôn lại. Kiểm tra việc học của hs từng ngày.
  • Thường xuyên cho luyện đề để rèn luyện kỹ năng cho hs, chỉnh sửa dần việc trình bày của hs.
  • Thường xuyên trao đổi việc dạy có phù hợp với hs hay chưa: nhanh hay chậm, khó hay dễ, kỹ hay chưa để có hướng điều chỉnh
  • Trao đổi việc học tập của hs với gv các môn khác cùng khối thi để biết năng lực của từng hs.
Tư vấn cho hs chọn trường, chọn nghề đúng khả năng, thi ĐH- CĐ đúng trình độ, những hs yếu động viên đi học nghề.
Lần cập nhật cuối lúc Thứ sáu, 08 Tháng 3 2013 23:13
 

Thêm bình luận


Mã an ninh
Làm tươi

ĐÁNH GIÁ - NHẬN ĐỊNH

Cong_thong_tin_tuyen_sinh

Thong_tin_tuyen_sinh

Huong_nghiep

De_thi-Dap_an_DH-CD

Tu_dien_Anh-Viet

Thi_thu_Dai_hoc

ĐỒNG HỒ

THỐNG KÊ

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay72
mod_vvisit_counterHôm qua237
mod_vvisit_counterTuần này72
mod_vvisit_counterTháng này4416
mod_vvisit_counterTất cả1127393

Online: 7
Hôm nay: 19/08/2019

LIÊN KẾT WEBSITE


Bạn đang ở: Home Hoạt động dạy - học Tổ Toán Lý hội thảo dạy chuyên đề